Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghề Kim Hoàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghề Kim Hoàn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

VÀNG NỮ TRANG TRƯỚC NỖI LO HỘI NHẬP WTO - Phần 3


Chất lượng vàng kém, vàng không đúng tuổi và mẫu nữ trang kém đa dạng khiến các chuyên gia đánh giá thị trường nữ trang của Việt Nam sẽ gặp khó khi WTO thực sự hội nhập. Khắc phục việc này không chỉ riêng của một doanh nghiệp mà còn của Bộ khoa học công nghệ, Ngân hàng nhà nước và cả ngành kim hoàn. 

PHẦN 3: THỰC TẾ THỊ TRƯỜNG VÀNG – AI CHỊU THIỆT?

Tiếp nối phần 2, chúng tôi chia sẻ nỗi lo vàng nữ trang thiếu tuổi. Để giải quyết vấn đề ấy, chúng tôi có cuộc khảo sát: Làm sao bảo vệ quyền lợi người mua vàng? Những tín hiệu đưa ra từ các doanh nghiệp nữ trang cho thấy nỗi lo hơn về ngành nữ trang và nghề kim hoàn Việt Nam khi gia nhập WTO.

Người mua đang chịu thiệt

Trước tình trạng vàng kém tuổi, vàng kém chất lượng, chúng tôi đã có cuộc khảo sát từ những người kinh doanh vàng về vấn đề phát triển bền vững vàng nữ trang khi hội nhập WTO.  

Khó khăn lắm, chúng tôi mới có thể nói chuyện được với chị L. H, nhân viên tiệm vàng trên đường Nguyễn Ảnh Thủ, Quận 12. Khi cam đoan mình là người của một công ty vàng, chỉ tìm hiểu và viết bài hỗ trợ cho doanh nghiệp để tìm giải pháp cho thị trường vàng. Lúc ấy, chị L.H mới xuôi lòng và nói:

 “Lâu nay, dân ta hay có xu hướng mua vàng nữ trang để tích trữ. Với thị trường vàng có nhiều biến động nhưng xu thế sẽ luôn tăng giá.

Việc làm vàng thiếu tuổi cũng có. Nhưng bọn mình là nhân viên, chỉ biết bán thôi. Cách bảo vệ người mua là tư vấn cho khách hàng kĩ lưỡng để họ chọn mua được món đồ vàng nữ trang như ý với giá hợp lý nhất. Nếu không biết và chọn phải hàng kém chất lượng thì người mua thường phải chịu thiệt.”

Còn ở Quận Bình Thạnh, khi chúng tôi hỏi vấn đề này, ông H, một chủ tiệm vàng gần Hàng Xanh chia sẻ. “Khi mua hàng, khách được tư vấn kỹ về tuổi vàng, chất lượng vàng nữ trang, nhẫn bạc… Công ty chỉ đảm bảo cho những sản phẩm mua tại cửa hàng. Còn vàng nữ trang từ nơi khác, chúng tôi phải đo kỹ. Vì mỗi nơi cũng làm và đánh giá một kiểu.”

Theo ông Nguyễn Ngọc Trọng - giám đốc kinh doanh Công ty PNJ thì: “Thị trường vàng nữ trang vẫn theo quy luật mua đâu bán đó. Nhưng thực tế dù mua đâu bán đó, có đầy đủ hóa đơn, người tiêu dùng vẫn phải chịu thiệt cả hai đầu mua bán. Lý do khi mua người tiêu dùng phải bỏ ra số tiền cao hơn giá trị món hàng. Đến khi bán, các tiệm vàng cũng không rõ ràng cách tính giá trị món hàng, phần lớn chỉ cầm món hàng lên thử, cân, sau đó phán giá. Nếu đồng ý thì bán.” (Theo bài “Phập phù chất lượng vàng nữ trang”Báo Tuổi trẻ đăng ngày 23/03/2013)

Như vậy, tuy đều nói giúp đỡ khách hàng, nhưng những người trong ngành vàng đều trực tiếp hay gián tiếp thừa nhận người mua đang chịu thiệt. Vì chính trong hệ thống ngành vàng cũng không có tiêu chuẩn. Các doanh nghiệp vàng không tin sản phẩm của nhau nên khi mua lại thường kiểm tra rất kỹ và chuyển gánh nặng, phần thua thiệt về phía người dân.

Thực tế, doanh nghiệp vàng đang thiệt hại nặng

Theo Chú Sơn, chủ tiệm gia công kim hoàn tại quận 12 và là người có thâm niên gần 20 năm trên thị trường vàng thì có cách nhìn khác. Chú cho rằng việc làm vàng thiếu tuổi, vàng kém chất lượng thì người thiệt thòi nhất là xưởng kim hoàn và doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc nữ trang.

“Thực tế thị trường hiện nay cho thấy, người mua vàng đang mất tiền vì vàng thiếu tuổi, vàng kém chất lượng. Có người mua vàng, khi bán thấy nhẫn vàng, lắc bạc của mình thiếu tuổi, mất giá hẳn so với lần trước mua mà hụt hẫng, không biết tin vào đâu.

Nhưng các bạn nhìn kỹ, vượt tầm lên khoảng 5 – 10 năm nữa, mà thậm chí 2 – 3 năm nữa thôi thì doanh nghiệp vàng,  kim hoàn sẽ thấy mình bị thất thiệt nặng.

Cứ giữ cách làm này, người dân sẽ hoang mang rồi không tin vào chất lượng của các sản phẩm nữ trang nữa. Họ dành tiền đầu tư sang lĩnh vực khác. Và vì thế, ngành nữ trang vàng bạc sẽ bị giảm doanh thu ngay.

Nếu có mua thì khách hàng có quyền lựa chọn. Với quyền lực trong tay là đồng tiền, họ sẽ chuyển sang mua hàng của công ty nước ngoài. Do đó, dòng tiền trong dân sẽ chảy về các doanh nghiệp nước ngoài chứ không phải chảy về túi doanh nghiệp vàng bạc nữ trang Việt Nam nữa. Các doanh nghiệp vàng bạc càng làm gian dối, họ càng đẩy khách hàng ra xa mình mà thôi.”

Lộ trình vào WTO quy định đến năm 2015, Việt Nam phải mở cửa hẳn cho các doanh nghiệp vàng bạc nước ngoài vào thị trường. Khi đó, việc kinh doanh vàng nữ trang sẽ là cạnh tranh và sòng phẳng.

Khi không còn sự nâng đỡ, bao bọc, doanh nghiệp vàng bạc trong nước phải đương đầu với sự cạnh tranh dữ dội của các doanh nghiệp nước ngoài. Và ở ngay sân chơi trong nước, nhiều doanh nghiệp Việt đã tỏ ra lép vế. Vì vàng nữ trang nước ngoài có mẫu mã phong phú, đa dạng và giá cả có thể thấp hơn trong nước. Cộng thêm với việc làm gian dối về chất lượng và tuổi vàng, nhiều doanh nghiệp sẽ có nguy cơ chết yểu nhanh chóng.

Trước những thông tin này, các doanh nghiệp vàng bạc, kim hoàn trong nước có động thái gì để giải quyết hay cứ tiếp tục để mất lòng tin ở người dân và để chạy qua doanh nghiệp nước ngoài?  

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Ý THỨC DÂN TỘC TRONG NGHỀ KIM HOÀN - Phần 2


Phần 2: XÁC ĐỊNH RIÊNG GIÁ TRỊ KIM HOÀN CHO NGƯỜI VIỆT VÀ XUẤT KHẨU RA KHU VỰC  


Vào thời Chúa Nguyễn nghề Kim hoàn được ý thức phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn. Nó tạo nền móng cho nhiều mô hình quản lý xã hội Việt Nam hiện nay. Sản phẩm kim hoàn của Việt Nam không chỉ dùng trong nước mà còn xuất khẩu.

Tiếp theo phần 1, song hành với tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh ở phía Bắc dành ý thức dân tộc tự chủ, không lệ thuộc thì tập đoàn chúa Nguyễn ở phía Nam có sự bình yên và phát triển mạnh mẽ.

Các chúa Nguyễn đã cai trị rộng mở và đẩy mạnh phát triển mọi mặt trong đó nghề kim hoàn được chú trọng hàng đầu. Vào thời các Chúa Nguyễn Miền Nam, kinh tế phát triển vững mạnh không ngừng. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn thì trước đây, chưa có triều đại nào lại chý ý quan tâm đến nghề kim hoàn như bây giờ.

Đối với nhân dân:
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tham gia nghề kim hoàn. Thậm chí, nhà chúa còn còn cấp phát tiền công, miễn trừ sưu thuế cho người đi tìm vàng.

Đối với ngành nghề:
Triều đình cử các tướng lĩnh trông coi nghề kim hoàn. Ở các mỏ vàng như Quảng Nam, Thuận Hóa, chính quyền lập các cơ sở lọc, nấu vàng có tên là liêm hộ thuộc.

Ở cấp Trung Ương:
Triều đình lập các “Ty”của nghề kim hoàn (tương đương với các Bộ bay giờ mà đến thời những năm 45 – 75 nước ta vẫn còn dùng từ này, sau đó mới đổi sang Bộ).
 Ngân Tượng ty (Ty thợ bạc): trông coi nghề nấu vàng.
 Nội lệnh sử Ty: chuyên đi thâu nhận vàng khai thác được trong nhân dân ở các xứ.

Ở kinh thành Thuận Hóa (Huế) còn có xưởng kim hoàn của Triều đình gọi là Nội Kim Tượng Cuộc tức Cục thợ làm vàng (“Cục” tương đương với các cục đường sắt, cục trại giam … nhà nước như hiện nay đang dùng). Nội Kim Tượng Cuộc quy định rõ cân lượng chuẩn xác cho nghề kim hoàn thời đó như: cứ 10 lượng vàng 9 tuổi thì nấu thành 01 thoi. Vì vậy có thể xem Nội Kim Tượng Cuộc có vai trò như Ngân hàng Trung Ương bây giờ.

Năm 1634, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cho xuất sang Nhật 50 cái bát, 50 cái đĩa có phân nửa bằng vàng, phân nửa bằng bạc. Điều đó cho thấy nghề kim hoàn của chúa Nguyễn Phía Nam phát triển mạnh. Nhà chúa không bị cướp bóc, ép đền mạng bằng tượng vàng như tập đoàn Lê Trịnh mà sản xuất ra nhiều, đạt khả năng chất lượng và thẫm mỹ để xuất khẩu.

Qua đó chúng ta có thể thấy rằng, nghề kim hoàn thời này đã đặt nên móng cho một số quy chuẩn thước đó, xây dựng nhiều làng nghề, bộ ngành quản lý riêng của người Việt truyền lại cho thế hệ sau. Nó thể hiện cách nhìn của người Việt, từng bước thực hiện tiêu chuẩn, tên gọi riêng chứ không ảnh hưởng vào nghề kim hoàn của Trung Quốc nữa. 

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

Lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn tại Hội quán Lệ Châu, Thành Phố Hồ Chí Minh



Cứ vào khoảng ngày 07/2 Âm lịch hàng năm, Chùa Lệ Châu lại từng bừng tổ chức Lễ Hội tưởng nhớ tổ Nghề Kim Hoàn cho hàng ngàn lượt người từ các địa phương, công ty sản xuất,  kinh doanh vàng bạc tham dự.  Hội quán (chùa) Lệ Châu vốn thuộc vùng Chợ Lớn, nay ngự trị tại số 586 Trần Hưng Đạo B, quận 5, TP Hồ Chí Minh.



Mốc son được ghi nhận vào đời vua Minh Mạng thứ 10, cụ Cao Đình Độ được nhà vua sắc phong làm Tổ nghề Kim Hoàn (nghề bạc). Tiếp đó, cụ Cao Đình Hương cũng được vua Thiệu trị thứ 08 sắc phong làm tổ nghề. Hai cụ được thờ phụng tại ngôi chùa thiêng Lệ Châu vùng Chợ Lớn để nhân dân, con cháu đồng môn tưởng nhớ thờ phụng. Sau này, chùa được nâng lên thành Hội quán để các con nghề kim hoàn, buôn bán, kinh doanh vàng bạc quy tụ về hành lễ tưởng nhớ. 

Ngày xưa, Hội Quán Lệ Châu là nơi hội họp quan trọng của những người thợ bạc vùng đất lục tỉnh (6 tỉnh Nam Bộ). Ngày nay, Lệ Châu hội quán đã trở thành nơi để thợ kim hoàn thể hiện lòng biết ơn đối với tổ nghề, là một trong những trung tâm tưởng nhớ kim hoàn tổ lớn nhất cả nước. Chính nơi đây họ còn tìm thấy một sức mạnh tinh thần để có thêm niềm tin đối với bản thân cũng như nghề nghiệp.

Ngày lễ hội chính thức vào ngày 07/2 âm lịch hàng năm. Tuy nhiên do có rất nhiều đoàn nghề, công ty bạc hành lễ nên tổ chức long trọng hơn thành 03 ngày (05, 06, 07 tháng 2) mới đáp ứng từ các nơi đổ về hành lễ. Trong những ngày diễn ra lễ hội, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm. Hội quán tiếp đón hàng ngàn lượt người tham dự.

Trong những ngày diễn ra lễ hội, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong đến ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm.

Mở màn giỗ tổ là nghi thức cúng cầu quốc thái dân an, tuyên đọc sắc phong tổ sư thợ bạc Việt Nam của các vị vua Triều Nguyễn cho người tham dự và người trong nghề hiểu biết xuất xứ của tổ nghề. Lễ hội chính thức chia thành 03 “Viên” (Viên là cách gọi về mỗi phần lễ) theo nghi thức lễ giỗ truyền thống. Khi hành lễ, con cháu nghề Bạc tiến hành theo nghi thức truyền thống, dâng phẩm vật như trà, bánh, trái cây, heo quay… Những thành viên ban quản trị đền thờ trong bộ lễ phục áo dài khăn đóng, đứng trước Bài Vị tổ sư vái lạy. Các trưởng đoàn cũng mặc xiêm y truyền thống và chỉnh tề tế lạy với tấm lòng thành kính, biết ơn người đã có công truyền dạy nghề cho con cháu, giúp ích cho xã hội và mang lại cuộc sống ấm no cho gia đình họ.

Sau khi hành lễ chia lộc cháu con và tổ chức liên hoan ngay tại sân hành lễ.

Lễ hội không chỉ là dịp tưởng nhớ các vị tổ sư ngành nghề mà còn truyền sức mạnh nghề nghiệp, thực hiện truyền thống “ôn cố tri tân” của người Việt.